NHỮNG NÉT NỔI BẬT VỀ GIÁO DỤC NGHỆ AN THỜI PHONG KIẾN

Thứ bảy - 19/09/2015 15:20
“Nghệ An núi cao sông rộng, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn cả ở Nam Châu. Người thì thuận hòa mà chăm học… được khí tốt của sông núi, nên sinh ra nhiều bậc danh hiền”.
Nghệ An là vùng đất xa kinh kỳ, nhưng lại là vùng đất “địa linh nhân kiệt” như Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” đã ghi: “Nghệ An núi cao sông rộng, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn cả ở Nam Châu. Người thì thuận hòa mà chăm học… được khí tốt của sông núi, nên sinh ra nhiều bậc danh hiền”. Vì thế, cùng với lịch sử phát triển của Nho học Việt Nam (1075 - 1919), thì truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và khoa bảng của người Nghệ An luôn được nuôi dưỡng và phát huy sớm. Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, những đứa trẻ xứ Nghệ đã được các bà mẹ dạy cho ý thức chăm lo việc đèn sách. Điều đó được thể hiện qua các làn điệu ví dặm, qua các lời ru:
“Con ơi mẹ dạy con này,
Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm
Làm người đói sạch, rách thơm
Công danh là nợ nước non phải đền”.

     Việc học tập của người dân xứ Nghệ xưa có thể nói là rất phổ cập và hoàn toàn do gia đình tự lo liệu. Một gia đình không đến nỗi đứt bữa, không lo điều gì hơn là cấp cho con dăm ba chữ để có thể thờ cúng tổ tiên, có thể đọc được gia phả, biết được cách cư xử đối với anh em, họ hàng và làng xóm. Gia đình nào khá giả thì có thể mời một ông thầy đồ về nhà mình để dạy cho con cháu trong nhà; hoặc nhiều gia đình hợp tác mời thầy về dạy học con em trong xóm, trong làng. Nghệ An có rất nhiều trường và có nhiều thầy dạy giỏi nổi tiếng, có thể kể đến: Dương Tồn, Hồ Sĩ Dương, Hồ Sĩ Đống, Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Thức Tự, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Năng Trình, Vương Thúc Quý, Nguyễn Nguyên Thành…
Đa số Nho sĩ xưa đều rất nghèo, có không ít "ông Nghè, ông Cống sống bởi ngọn khoai; anh học, anh nho nhai hoài lộc đỗ". Có gia đình ăn cháo, ăn khoai ngày ba bữa, mà cả nhà ông cháu, cha con đều thi đỗ". "Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, ngày ba bữa; Ông đỗ, cha đỗ, con đỗ, đỗ cả nhà". Học trò xứ Nghệ xưa đều phải vượt khó, ăn sắn, ăn khoai, ăn ngô trừ bữa, ngày làm đêm học, nên thường lấy sự kiên nhẫn tạo ra thành quả trong học tập. Nhiều học trò phải học dưới ánh trăng, học trên lưng trâu, đốt lá cây để đọc sách, dùng mo cau thay giấy, bút là cành cây viết chữ trên đất... Có thầy không có nhà để mở lớp, học trò đông, phải đưa trò lên núi học ngay ở ngoài trời, viết chữ lên đá... Thế mà, thầy nổi tiếng dạy hay, trò nổi tiếng học giỏi, đỗ cao. Về nội dung học tập thì học trò xứ Nghệ thường không chuộng "hoa mỹ" mà cốt "văn hùng" lúc đi thi, làm bài cũng thế. Nếp sống trong học tập của học trò xứ Nghệ có thể gọi là "khổ học", đã trở thành một nét thuộc bản sắc truyền thống văn hóa địa phương. Niềm khát vọng vươn lên trong khoa bảng của người dân xứ Nghệ rất mãnh liệt. Hình ảnh ông Nghè "vinh quy bái tổ", "võng anh đi trước, võng nàng theo sau", là ước mơ cháy bỏng của các sĩ tử, của cha mẹ và vợ con họ. Hình ảnh "văn phòng tứ bảo" (bút, giấy, nghiên, mực...) cùng với bảng vàng, bảng hổ đề danh... in đậm trong tiềm thức người dân và được tái hiện, nhập hồn vào núi, ao, cồn, doi, quê hương xứ sở với nhiều địa danh quen thuộc như Nho Lâm, Bút Điền, Bút Trận, Bút Luyện, Văn Thái, Văn Khúc, Tam Khôi, Văn Khuê, Văn Trường, Văn Lâm, Hòn Mực, Núi Bảng... chính vì thế, mà truyền thống học hành, đua nhau chiếm bảng rất được coi trọng ở xứ Nghệ.
      Mở đầu cho truyền thống khoa bảng là Bạch Liêu (xã Mã Thành, huyện Yên Thành) đỗ Trại Trạng Nguyên năm 1266. Ông được xem là vị “tổ khai khoa” của đất Nghệ. Tiếp theo đó, trong tiến trình lịch sử khoa cử các triều đại phong kiến Việt Nam, các sĩ tử Nghệ An đã có hàng trăm người chiếm vị trí cao trong các khoa thi Hương, thi Hội. Trong 82 bia văn miếu (Hà Nội) ghi danh sách những người đỗ đạt  trong tám mươi hai kỳ thi (1442 – 1780) thì có tới 57 bia có tên người Nghệ An hoặc Hà Tĩnh đỗ.
     Trải hơn 300 năm, trong số 1304 Tiến sĩ được đề bia thì có 110 Tiến sĩ người Nghệ. Theo thống kê của Đinh Khắc Thuận, dựa theo các tài liệu Đăng khoa lục, trong tổng số 2263 Tiến sĩ đỗ trong triều Lê sơ (1426-1527), Lê Trung hưng (1533-1778) và Mạc (1527-1592) thì có tới 142 người Nghệ đỗ. Như vậy số Tiến sĩ xứ Nghệ trong bia văn miếu còn lại đến ngày nay chiếm 77,5% (110/142) trong tổng số lượng người Nghệ đỗ. Loại trừ đi số bia bị mất hoặc chưa cho khắc bia, danh sách đỗ đại khoa của người Nghệ trên văn bia hiện còn về cơ bản là phản ánh đúng đội ngũ đông đảo khoa bảng Nghệ trong các thế kỷ XVI-XVIII. Trong 57 bia có Tiến sĩ thì có tới 31 bia có ít nhất hai người Nghệ đỗ, còn lại 24 bia có một người Nghệ đỗ. Trong 110 Tiến sĩ thì có 8 người đỗ Đệ nhất giáp, 32 người đỗ Đệ nhị giáp, 70 người đỗ Đệ tam giáp.
      Có những kỳ thi Tiến sĩ Nghệ chiếm số lượng áp đảo so với các địa phương khác. Như kỳ thi năm Quang Hưng thứ 15 (1592) không lấy Đệ nhấp giáp, 2 trên 3 người đỗ đều là người Nghệ An. Điều đặc biệt có một không hai trong kì thi này là cả hai cha con (xã Lý Trai, huyện Đông Thành) cùng đỗ một khoa, con cao hơn cha một bậc: con Ngô Trí Hòa, 28 tuổi, đỗ Đệ nhị giáp; cha Ngô Trí Tri, 56 tuổi, đỗ Đệ tam giáp. Sự kiện này rất nổi tiếng vào đương thời, vua Lê đã tặng bức trướng có 10 chữ vàng cho hai cha con về vinh quy bái tổ “khoa danh thiên hạ hữu, phụ tử thế gian vô” (Đỗ đại khoa thì có nhiều người nhưng hai cha con đỗ cùng khoa thì chưa thấy bao giờ).
      Ngoài ra, có sĩ tử trong một năm đỗ luôn hai khoa thi Tiến sĩ và Đông các, một năm được hai lần vinh quy, như Hồ Sĩ Dương, Nguyễn Đình Cổn. Có khoa thi lấy đỗ năm đệ nhất giáp, thì Nghệ An chiếm hai: Đinh Bạt Tụy ( đỗ Đình nguyên), Phan Tất Thông. Nhiều sĩ tử đỗ đầu hai khoa thi (song nguyên) như: Hồ Sĩ Đống, Nguyễn Ngọc, Nguyễn Đức Quý, Vương Hữu Phu (Hội nguyên - Đình nguyên); Nguyễn Hữu Lập, Nguyễn Văn Giao (Giải nguyên - Đình nguyên); Cao Quýnh, Phạm Nguyễn Du (Giải nguyên - Hội nguyên). Có khoa thi Tiến sĩ chỉ lấy đỗ hai đệ nhất giáp Thám hoa, thì cả hai cùng ở một tổng (Nam Kim, Nam Đàn) là Nguyễn Đức Đạt và Nguyễn Văn Giao…
      Các địa phương xứ Nghệ có truyền thống đào tạo Nho học và thi cử đại khoa thường vẫn có con em đại diện trúng Tiến sĩ trong mỗi mùa thi. Các huyện được khắc tên trên bia đá tại Thăng Long trở nên rất quen thuộc. Đứng đầu số lượng Tiến sĩ được khắc bia là huyện Đông Thành (Yên Thành và Diễn Châu) với 15 người, Thanh Chương 11 người, Quỳnh Lưu 5 người…Có những xã nổi tiếng truyền thống khoa danh cũng thường được bia đá đề tên: xã Trung Cần (Thanh Chương) 3 người, xã Hoàn Hậu (Quỳnh Lưu) 3 người, xã Quan Trung và xã Lý Trai (Đông Thành) 4 người…
       Số lượng đỗ cao tại các địa phương này chủ yếu là thuộc về các dòng họ nổi tiếng có truyền thống khoa bảng. Họ Ngô ở xã Lý Trai (Đông Thành) 4 đời liên tiếp đỗ 5 Tiến sĩ, cả 5 đều được đề tên tại bia đá. Ngoài cha con Ngô Trí Tri, Ngô Trí Hòa như đã nhắc, còn có Ngô Sĩ Vinh là con Ngô Trí Hòa đỗ Đệ tam giáp năm 1646, Ngô Công Trạc là cháu nội Ngô Sĩ Vinh đỗ Song nguyên (Hội nguyên-Đình nguyên, đệ tam giáp) năm 1694, Ngô Hưng Giáo là em Ngô Công Trạc đỗ đệ tam giáp năm 1710. Họ Nguyễn Trọng ở xã Trung Cần (Thanh Chương) có cha là Nguyễn Trọng Thường đỗ đệ tam giáp năm 1712, con là Nguyễn Trọng Đương đỗ đệ tam giáp vào năm 1769, 3 kì thi sau Nguyễn Trọng Đường là cháu đích tôn của Nguyễn Trọng Thường, cháu gọi Trọng Đương bằng chú cũng đỗ đệ tam giáp năm 1779. Ba đời họ Nguyễn Trọng đều được triều đình cử đi sứ nhà Thanh nên tại nhà thờ họ ở xóm Khoa Trường, xã Trung Cần vẫn còn bức hoành phi đề 5 chữ “Tam thế ngũ hoàng hoa” (ba đời, năm lần được đi sứ) tương truyền do vua Thanh đề tặng. Họ Lê ở xã Quan Trung (Đông Thành) có cha là Lê Kính đỗ Đệ tam giáp năm 1628, con là Lê Hiệu đỗ Đệ nhị giáp năm 1643. Cả hai cha con khi làm quan đều là Thượng thư đồng triều. Họ Nguyễn ở xã Hoa Lâm (Nam Đường) có cha là Nguyễn Phùng Thì đỗ Đệ tam giáp năm 1715, con là Nguyễn Bá Quýnh cũng đỗ Đệ tam giáp năm 1733…Trong các họ xứ Nghệ thì họ Hồ ở Nghệ An (với hai nhánh chính là họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu và họ Hồ ở Thổ Thành (Yên Thành) là họ có thành tích khoa bảng đông đảo nhất. Theo số liệu của Đào Tam Tỉnh kể từ nhà Trần đến Nguyễn họ Hồ có tổng cộng 14 Tiến sĩ. Người mở đầu truyền thống khoa bảng dòng họ này là Trạng nguyên Hồ Tông Thốc đời Trần. Hiện tại trong văn bia Quốc tử giám có 5 Tiến sĩ họ Hồ: đầu tiên là Hồ Bỉnh Quốc đỗ Đệ nhị giáp chế khoa xuất thân năm 1577 (Hồ Bỉnh Quốc quê ở xã Bình Lãng, huyện Thiên Lộc, Hà Tĩnh. Gốc gác của ông vốn là họ Hồ Quỳnh Lưu, vì ông nội là Hồ Tông Thành đã chuyển từ Quỳnh Lưu sang lập nghiệp ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh), sau đó là Hồ Sĩ Dương (đời thứ 9) đỗ Đệ tam giáp năm 1652, Hồ Phi Tích đỗ Đệ nhị giáp năm 1700, Hồ Sĩ Tân đỗ Đệ tam giáp năm 1721, Hồ Sĩ Đống đỗ Đệ nhị giáp năm 1772 (Hội nguyên).
 Là vùng đất có truyền thống hiếu học, khoa cử qua nhiều triều đại, thế nên Nghệ An đã được chọn là một địa điểm đặt trường thi. Trường thi Hương Nghệ An được lập từ đời Lê Thái Tông (1438), nổi tiếng là nơi để nhà nước quân chủ lựa chọn nhân tài.
      Riêng triều Nguyễn, Trường thi Hương dời về xã Yên Dũng (Trường Thi, Vinh) và đã  tổ chức được 42 khoa thi, lấy đỗ 882 Cử nhân, trong đó có 595 người Nghệ An. So với cả nước, triều Nguyễn lấy đỗ 5.232 Cử nhân, thì tỷ lệ Cử nhân người Nghệ An cũng chiếm cao nhất so với các tỉnh khác (595/5.232 = 11,4%). Hiện nay, những người biên soạn cuốn sách Khoa bảng Nghệ An đã lập được danh mục tổng cộng 1.164 vị trong đó có 190 Tiến sĩ và Phó bảng (45 Phó bảng), 145 Hội thí trúng Tam trường, Nhị trường, 318 Hương cống triều Lê, 595 Cử nhân triều Nguyễn.
      Các nhà khoa bảng ở Nghệ An sau khi đỗ đạt nhiều người trong số họ trở thành những ông quan giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình. Rất nhiều người là Thượng thư đứng đầu các bộ, như cha con Lê Kính, Lê Hiệu (thế kỷ XVII) ở làng Tràng Sơn (nay thuộc huyện Yên Thành) cùng là Thượng thư của một triều vua. Các con số thống kê cho thấy: riêng về ngoại giao có 30 vị chánh, phó sứ. Về giáo dục thì bên cạnh những người trở thành những ông thầy uyên bác tiếp tục sự nghiệp trồng người, một số lượng rất đông trở thành cán bộ quản lý giáo dục ở các phủ, tỉnh, huyện. Tính ra có 33 vị là quan Đốc học, 28 vị là quan giáo thụ, 32 vị là quan Huấn đạo. Ngoài ra, họ cũng là những nhà thơ, nhà văn người giàu lòng yêu nước, thương dân. Như trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thế kỷ XIII, Trạng nguyên Bạch Liêu là môn khách, là người bàn mưu tính kế bên cạnh Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, rồi sau này khi triều đình nhà Nguyễn có xu thế thỏa hiệp, đầu hàng thực dân Pháp thì các nhà khoa bảng Nghệ An là lực lượng mạnh nhất tham gia phong trào Cần vương. Các ông Trần Tấn, Đặng Như Mai, rồi sau đó là Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã… đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa chống Pháp kéo dài nhiều năm. Sự hy sinh của họ đã để lại những tấm gương sáng trong lịch sử quê hương và đất nước. Những người học giỏi, có tài văn học, còn được nhân dân tôn sùng gọi là "Tứ lân", "Tứ hổ"... Huyện Nam Đàn có "Tứ hổ" là: San, Đôn, Lương, Quý (tức là: Phan Văn San, Lê Bá Đôn, Trần Văn Lương, Vương Thúc Quý) đều đậu cử nhân. Riêng San (Phan Bội Châu) đậu Giải nguyên…Truyền thống hiếu học của nhân dân Nghệ An còn được phát huy mãi về sau và trở thành biểu tượng, niềm tự hào của nhân dân xứ Nghệ. Nhiều thế hệ thầy trò đã sớm tiếp thu những thành tựu khoa học tiên tiến của thế giới trở thành những nhà khoa học nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực và đã có những đóng góp xứng đáng cho khoa học, cho đất nước và quê hương như: Cao Xuân Huy, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Thúc Hào, Nguyễn Cảnh Toàn, Hoàng Đình Cầu, Đào Vọng Đức, Nguyễn Thị Thiều Hoa, Trần Tuấn Hiệp,… và nhiều nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ, nhiều nhà nghiên cứu thuộc đủ các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội khác.

Tác giả bài viết: Tổ Lịch sử

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây