Giới thiệu về trường thân yêu

Giới thiệu về trường thân yêu

  LỊCH SỬ VÀ TRUYỀN THỐNG TRƯỜNG CẤP III HƯNG NGUYÊN TRƯỜNG THPT LÊ HỐNG PHONG
     Ra đời từ mùa hè năm 1965 đến nay 2015 trường THPT Lê Hồng Phong - tiền thân là Trường cấp III Hưng Nguyên tròn năm mươi tuổi.
     Năm mươi năm xây dựng và trưởng thành, cùng với sự chuyển biến đi lên của cách mạng và sự nghiệp giáo dục của cả nước, với sức xuân đầy khí sắc Trường cấp III Hưng Nguyên – THPT Lê Hồng Phong đã có những bước chuyển mình quan trọng. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với những đặc điểm khác nhau, khi quyết liệt mạnh mẽ, khi thăng trầm nhưng dữ dội, đầy thử thách cám dỗ, nhưng vẫn vững bước đi lên, quyện vào làn gió “Đổi mới của toàn dân tộc”.
     Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường, trong không khí phấn khởi xây dựng Trường đạt chuẩn quốc gia, nhìn lại chặng đường đã đi qua, chúng ta có thể tự hào về bước đi vững chắc của trường qua ba thời kỳ phát triển.
A. Đứng vững trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh (1965 – 1975)
B. Trưởng thành trong điều kiện đất nước hoà bình (1975 – 1990)
C. Hoà vào luồng gió đổi mới, tiếp tục vươn lên trong sự nghiệp cải cách giáo dục (1990 – 2015)
    Có thể tự hào rằng: Dù ở thời kỳ và hoàn cảnh nào Trường cấp III Hưng Nguyên - THPT Lê Hồng Phong suốt năm mươi năm qua vẫn giữ được những bước đi vững chắc của mình, cùng với nhân dân huyện và tỉnh nhà đã giữ vững truyền thống, phát triển sự nghiệp giáo dục. Nhà trường đã đào tạo được năm mươi thế hệ con em địa phương trở thành những lao động có tri thức văn hoá – xã hội cơ bản, cung cấp cho đất nước hơn 21000 học sinh tốt nghiệp THPT, có khoảng hơn 7000 học sinh có trình độ Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp công tác trên mọi lĩnh vực khoa học kỹ thuật, quản lý Nhà nước, quản lý xây dựng kinh tế, văn hoá xã hội… Có hàng trăm người có học vị Thạc sỹ, Tiến sỹ, Phó Giáo sư, Giáo sư; là nhà giáo ưu tú, tướng lĩnh cao cấp, anh hùng lao động như: Đào Trí Úc, Lê Hữu Ái, Thái Minh Tần, Trịnh Bá Tiến, Nguyễn Văn Sơn, Lê Văn Bát, Lê Văn Nam, Võ Xuân Định, Trịnh Tiến Dũng, Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Đình Mãn, Thái Huy Vinh, Trần Xuân Dung, Lê Văn Phương…
     Hàng trăm thầy giáo, học sinh của trường đã trở thành những nhà quản lý từ cấp cơ sở đến trung ương như: Hoàng Nghĩa Mai, Võ Đức Quỳnh, Trịnh Bá Tiến, Phạm Văn Nhường, Đào Duy Tân, Nguyễn Văn Lập, Trần Xuân Bí, Trần Xuân Hường, Nguyễn Quốc Kiện, Trịnh Bá Độ, Vũ Danh Nhân, Hoàng Xuân Trường, Nguyễn Xuân Đường, Lê Văn Đại… 
     Số học sinh trở thành giáo viên tiếp tục sự nghiệp trồng người chiếm số lượng khá lớn. Đại bộ phận học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường đã tình nguyện ở lại xây dựng quê hương. Rất nhiều người đã trở thành cán bộ chủ chốt của các địa phương hoặc thành những người làm kinh tế giỏi, nhiều người đã trở thành những Doanh nghiệp lớn, nhà sản xuất, kinh doanh giỏi, chủ các trang trại... như: Lê Văn Nam - Chủ tịch xã Hưng Thông, Phan Văn Tân - Bí thư Đảng uỷ xã Hưng Đạo, Nguyễn Văn Hiếu - Cán bộ xã Hưng Long…Hàng nghìn cán bộ giáo viên, học sinh ưu tú đã xung phong ra trận. Trong số họ có nhiều người là sỹ quan cao cấp của quân đội như: Trần Văn Xuân, Nguyễn Minh Công, Phan Đình Bình… 
     Trong niềm tự hào hôm nay, chúng ta không quên tưởng nhớ tới thầy giáo Nguyễn Tiến Bộ và 95 anh, chị em học sinh của trường đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Họ mãi là tấm gương sáng, sống mãi trong lòng chúng ta. Đó là niềm tự hào của nhà trường, là đóng góp đáng trân trọng mà các thế hệ thầy và trò dành cho quê hương, đất nước.
     Sau đây, Ban biên soạn xin được điểm lại những trang sử vẻ vang của mái trường thân yêu qua năm mươi năm xây dựng và trưởng thành.
     A. ĐỨNG VỮNG TRONG HOÀN CẢNH ĐẤT NƯỚC CÓ CHIẾN TRANH (1965 - 1976)
     I. Những khó khăn và cách khắc phục.
    Tháng 8/1964 đế quốc Mỹ điên cuồng leo thang đánh phá miền Bắc, mở rộng chiến tranh với quy mô ngày càng ác liệt. Trên dải đất khu 4 từ vĩ tuyến 19 trở vào bất kể ngày đêm không có giờ phút nào trên bầu trời lại không có tiếng máy bay gầm rú và mặt đất lại không bị cày xới bởi bom đạn của kẻ thù từ trên không trút xuống, từ ngoài biển đội vào. Nghệ An, đặc biệt là thành phố Vinh và các vùng phụ cận thường xuyên bị bắn phá dữ dội. Hưng Nguyên nằm trong “túi lửa” đó, mỗi mảnh đất, mỗi làng xã nơi này đều mang nhiều dấu tích tổn thất đau thương.
     Về trú chân rồi trụ lại trên mảnh đất Hưng Nguyên trong hoàn cảnh đó, ngay từ buổi đầu thầy và trò Trường cấp III Hưng Nguyên đã phải trực tiếp đối diện với thử thách khắc nghiệt, cùng với thử thách đó nhiều vấn đề nan giải nảy sinh. Nên đặt vị trí trường ở đâu? Trong chiến tranh người ta sợ nhất là nơi có mật độ dân số cao vì dễ trở thành mục tiêu đánh phá của máy bay Mỹ.Với hơn 500 con người (cả thầy và trò) tụ hội về một nơi, đâu phải không có nỗi lo. Đúng như thầy Nguyễn Xuân Lương đã nói. “Trường đi đến đâu, bom đạn theo đó” vừa hài hước, vừa hiện thực. Để tìm được một làng, một xã vui lòng cho trường cắm chốt quả là một điều nan giải. Đứng trước vấn đề nan giải đó Ban lãnh đạo nhà trường nghĩ gì? Thế nhưng dần dần vấn đề đó cũng được giải quyết.
      Hưng Tân trở thành chiếc nôi đầu tiên của trường, có được sự chấp thuận ấy một phần do nhân dân xã nhà vốn giàu truyền thống cách mạng và ân tình, trọng thầy hiếu học sẵn sàng che chở đùm bọc trường trong hoàn cảnh khó khăn, mặt khác đội ngũ cốt cán của lãnh đạo nhà trường rất có tinh thần trách nhiệm, lặn lội không biết mệt mỏi ngày đêm thay nhau đi làm công tác tư tưởng thuyết phục chính quyền địa phương, cuối cùng đã thành công. Để có được vị trí đứng chân của trường, chúng ta không quên ơn các cô thầy như: cô Nguyễn Thị Hoài Thanh (Hiệu trưởng), thầy Nguyễn Công Trực (Bí thư chi bộ), thầy Nguyễn Xuân Lương… Về phía địa phương có ông Đinh Liên và ông Đinh Trữ (nguyên là Bí thư và Chủ tịch huyện lúc bấy giờ) đã bàn bạc phân tích và đi đến thống nhất cao.
     Đã có đất lành rồi nhưng một loạt công việc khác vẫn tiếp tục đặt ra: Lán học, bàn ghế cho thầy giáo và học sinh? Nơi ăn chốn ở cho cán bộ và giáo viên, nhất là cho những gia đình đông con? Một loạt câu hỏi không dễ trả lời được đặt ra.
     Tách ra từ trường Huỳnh Thúc Kháng với hai bàn tay trắng, ngoài quyết định thành lập trường, quyết định điều động giáo viên và quyết định bổ nhiệm lãnh đạo, tài sản mang theo là những khó khăn thực tế và nỗi trăn trở của Ban giám hiệu và Hội đồng giáo dục nhà trường. Hơn lúc nào hết vai trò xung kích của người Đảng viên, tinh thần giám nghĩ dám làm của những người lãnh đạo và trí tuệ, ý chí cũng như sự đoàn kết nhất trí của tập thể cán bộ giáo viên được bộ lộ một cách mạnh mẽ. Khởi đầu là cuộc họp Chi bộ Đảng và Ban Giám hiệu nhà trường đã được triệu tập dưới sự chủ trì của thầy Nguyễn Công Trực (Chi bộ gồm có 7 đ/c: Đ/c Nguyễn Công Trực là Bí thư) họp tại nhà ông Trạc xóm 6 Hưng Tân. Nội dung cuộc họp chủ yếu xoay quanh vấn đề dựng lán lớp, lo lắng đủ bàn ghế, bảng đen cho 10 lớp học với 500 học sinh ổn định nơi ăn chốn ở cho cán bộ giáo viên và gia đình họ. 
     Với tính chất khẩn trương sau nhiều giờ hiến kế, thảo luận tập thể lãnh đạo đã đi đến thống nhất:
    - Xây dựng lán trại làm lớp học, huy động sự đóng góp của học sinh, phụ huynh, học sinh lớp nào tự dựng cho lớp đó trên cơ sở thống nhất một kiểu mẫu.
   - Bàn ghế làm việc cho cán bộ giáo viên và học sinh học tập: Học sinh khiêng vác chuyển từ Vinh về. Đây là một công việc mạo hiểm, bởi phải tiến hành ban đêm, trong tầm bom đạn của kẻ thù, nên ngoài tinh thần vượt khó còn đòi hỏi cả tinh thần tháo vát dũng cảm. Đội quân được chia làm hai khối (Một khối gồm hai lớp10 và 2 lớp 9) chuyển từ Vinh về Cầu Mưng (Hưng Thái). Một khối tiếp nhận và chuyển về Hưng Tân, phụ trách là các thầy: thầy Sính, thầy Châu, thầy Dư, thầy Điều, thầy Trường và một số thầy cô giáo khác. Bàn ghế của trường cũ không còn được mấy phải đi vào các trường và công sở (đi sơ tán bỏ lại) mà lấy. Các thầy như thầy Sính, thầy Trực đã xông xáo dẫn học trò vào trường Đại học sư phạm vào rạp chiếu bóng 12/9 vào cả UBND tỉnh gặp lành lấy lành, gãy lấy gãy, hỏng mà có còn hơn không.
    - Nơi ăn chốn ở cho cán bộ giáo viên và công nhân viên đồng thời được tiến hành, cách giải quyết cuối cùng là: Những người độc thân tự nguyện vào nhà dân tự tạo cuộc sống ổn định cho mình, nhà trường giúp đỡ phần nào cho các đồng chí có gia đình đông con, con còn nhỏ, chủ yếu tập trung giải quyết nhà làm việc của Hội đồng Ban giám hiệu, nhà ăn, nhà kho….
     Khó khăn thiếu thốn chồng chất nhưng với ý thức trách nhiệm tận trung với nhiệm vụ, được phân công, công tác làm việc xông xáo, khoa học của từng cá nhân, từng bộ phận và sự đoàn kết cao trong nội bộ, cùng với ủng hộ nhiệt tình vô tư của chính quyền bà con xóm 4, xóm 6, xóm 7 và xóm 21 Hưng Tân, xóm 10 Hưng Thông, cuối cùng mọi việc đều được hoàn tất. Lán lớp học sinh có giao thông hào, có hầm luỹ bao quanh đồng loạt mọc lên với đủ bảng đen, bàn ghế cho giáo viên và học sinh. Hai ngôi nhà dành cho gia đình cán bộ giáo viên và bếp ăn tập thể cũng được dựng xong khá tươm tất. Tất cả hoàn thành đúng như yêu cầu đã dự định.
     Sau thắng lợi quan trọng bước đầu này, thầy trò đã hân hoan chào đón năm học mới, năm học  1965 - 1966, năm học có ý nghĩa đặc biệt. Năm học đầu tiên của trường cấp III Hưng Nguyên.
     Ba năm học 1965-1966, 1966-1967, 1967-1968 nối tiếp nhau hoàn thành một cách vẻ vang trên mảnh đất này. Tuy còn nhiều khó khăn nhưng có thể nói rằng: 3 năm học đã ghi một dấu ấn chói lọi đầu tiên trong lịch sử 50 năm xây dựng và phát triển của trường. Phong trào thi đua dạy - học phát triển. Nhiều em học sinh giỏi tu dưỡng đạo đức tốt được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Bên cạnh dạy và học nhà trường có tham gia cùng với nhân dân huyện nhà đắp đường 12/9 với khối lượng hàng ngàn m3, đào hào giao thông, đắp công sự pháo phục vụ chiến đấu, cùng nhân dân tham gia thu hoạch mùa màng, đắp đê 42 chống lũ lụt.
     II. Một dấu ấn khó quên:
     Năm học 1968-1969 có thể được coi là một năm học lịch sử của nhà trường, chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc ngày càng lan rộng và ác liệt. 
     Đặc biệt là sau tết Mậu Thân 1968 chúng dùng con át chủ bài B52 ném bom rải thẳng xuống những vùng đông dân cư, những chỗ chúng nghi là có mục tiêu quân sự, kho tàng, máy móc…Cuộc chiến tranh đã chuyển sang tính chất huỷ diệt, nhiều bệnh viện trường học cầu cống bị chúng bắn phá, hàng trăm học sinh đã bị chết hoặc bị thương.
    Hưng Nguyên là một trọng điểm trong các trọng điểm lớn bắn phá của tỉnh Nghệ An, giặc Mỹ đã dội xuống đây không biết cơ man nào là bom đạn. Các xã lân cận nơi trường đóng như là xã Hưng Thái, Hưng Đạo, Rú Thành, Hưng Lam, Hưng Xuân, Hưng Xá, Hưng Long… đều bị bom Mỹ ngày đêm thi nhau cày xới. Lúc này Hưng Tân, Hưng Thông không còn là hậu cứ an toàn của trường nữa. Có thể nói đây là thời kỳ mà tinh thần và ý chí của mỗi con người Việt Nam cần được thể hiện một cách cao độ nhất. Lời căn dặn của Người “Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt và học tốt” trở thành lời giáo huấn – mệnh lệnh trang nghiêm đối với ngành Giáo dục của chúng ta.
     Trước tình hình đó, chấp hành Chỉ thị của UBND tỉnh và Ty giáo dục Nghệ An, tháng 8/1968 Trường cấp III Hưng Nguyên sơ tán lên Nghĩa Đàn. Chặng đường đi khá dài (100km đi bộ) số lượng thầy và trò cũng đông hơn trên 600 người. Trong điều kiện trên bom dưới đạn bầu trời không lúc nào ngớt tiếng máy bay giặc Mỹ. Đây là một thử thách mới hết sức nặng nề, phức tạp và đối diện trực tiếp với mỗi người, đặc biệt là đối  với người Đảng viên và cán bộ lãnh đạo trường.
     Một cuộc họp mở rộng do Ban giám hiệu và Chi bộ Đảng được triệu tập do thầy Nguyễn Xuân Lương (Phó hiệu trưởng kiêm Bí thư Chi bộ) chủ trì. Nội dung cuộc họp chủ yếu xoay quanh vấn đề tổ chức cho trường sơ tán lên nông trường Tây Hiếu. Một loạt vấn đề được đặt ra và cùng nhau thảo luận kỹ là:
- Tổ chức hành quân như thế nào để đảm bảo tuyệt đối an toán tính mạng cho hơn 600 con người trên chặng đường hơn 100km đường bộ thường xuyên bị máy bay bắn phá?
- Làm thế nào sớm ổn định cuộc sống, giảng dạy và học tập của thầy và trò nơi địa bàn rừng núi xa lạ?
- Các biện pháp về chăm sóc sức khoẻ, tổ chức động viên tinh thần học tập, yêu thương đùm bọc lẫn nhau trong học sinh…?
- Cách xử lý bảo vệ tài sản của trường ở xóm 4,6,7,21 Hưng Tân và xóm 10 Hưng Thông?
- Phân công hợp lý các cán bộ giáo viên phụ trách các mũi công việc…?
     Các nội dung trên được triển khai ngay sáng hôm sau tại Hội đồng giáo dục, đồng thời phổ biến rộng rãi đến tận các địa phương gia đình phụ huynh và mỗi học sinh.
     Ngày 30/7/1968: Hội đồng nhà trưởng tổ chức một bữa cơm liên hoan chia tay với lãnh đạo huyện, lãnh đạo các xã đại diện các gia đình cưu mang  cán bộ giáo viên. Ngày 02/8/1968: Cuộc hành quân lên Nghĩa Đàn được thực hiện, có tổ chức chặt chẽ, phân công phụ trách cụ thể:
 - Giáo viên độc thân được chia ra, phối hợp với giáo viên chủ nhiệm đi kèm với học sinh. Học sinh đi theo đơn vị lớp, mỗi lớp cách nhau một khoảng cách, dưới sự giám sát của giáo viên chủ nhiệm (ngoài ra còn có một số cán bộ xã - chỉ những người am hiểu đường đi lối lại, xông xáo, chỉ dẫn giúp đỡ). Thầy Đồng Xuân Sanh và thầy Hoàng Kim Cẩn trực tiếp phụ trách khối này.
 - Cán bộ giáo viên đông con, có con còn nhỏ đi  thành một khối. Đây là khối phức tạp nhất đồ đạc, hành lý, con nhỏ… đều được chuyên chở bằng xe đạp thồ, nhưng chủ yếu là gánh, vì xe đâu có đủ. Thôi thì cứ vậy mà đi, lầm lũi, kiên trì, lớp nọ nối tiếp lớp kia, khối này nối tiếp khối nọ, tạo thành một đội hình rồng rắn, kéo hàng cây số. Khối này thầy Lương và cô Thanh phụ trách. 
- Đường hành quân: Phải tìm con đường ngắn và an toàn nhất, con đường được chọn là bắt đầu theo đường 12/9 ra Hưng Tây, sang Hưng Yên vượt qua Nghi Công, Nghi Kiều, luồn qua Phương Tích ngược lên Tuần rồi tới đích Cao Trai (Nông trường Tây Hiếu).
     Ngày đi, đêm nghỉ. Ngủ ở lề đường, nhà dân, gốc cây, quán chợ… Ai tìm được nơi nào ngủ thì ở đó, miễn là không đi quá xa đội hình. Ăn uống mỗi người tự giải quyết cho mình. Cứ thế, sau bốn ngày đêm ròng rã, thầy và trò vai ba lô, đầu mũ rơm, chân đi dép cao su đã vượt qua trên 100 km trong bom đạn, đến tận nơi tập kết an toàn tuyệt đối. Cuộc hành quân thành công là một thắng lợi lớn, rất đáng ghi nhớ trong trang sử đấu tranh để tiếp tục tồn tại và phát triển của trường ta.
     Trước khi Trường đến địa điểm sơ tán, Ban giám hiệu và Chi ủy cử một nhóm giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao, tác phong năng động và tháo vát, có tài làm công tác ngoại giao đi tiền trạm trước: Đó là thầy Nguyễn Cảnh Đính, thầy Phạm Văn Quang, thầy Nguyễn Huy Uyên, thầy Nguyễn Cảnh Nam… do thầy Đính chịu trách nhiệm liên hệ với UBND huyện Nghĩa Đàn xin quyết định nơi đóng quân, vận động Ban Giám đốc nông trường  và các đội sản xuất giúp đỡ thầy trò, thầy Uyên phụ trách hậu cần, chuyên liên hệ xin lệnh cấp lương thực, thực phẩm. Thầy Quang, thầy Nam liên hệ mua vật liệu làm bàn ghế…Ngày đi, đêm họp với các đội sản xuất nơi trường sẽ đóng, hiệu triệu cán bộ công nhân ủng hộ nhà trường. Cả một khối công việc đồ sộ, lo chuyện ăn ở cho cả một số lượng lớn con người như thế không phải là chuyện dễ. Phải có sức, có tâm và cả tài nữa mới có thể xoay xở trôi chảy được.
      Phải thừa nhận con người Tây Hiếu vô cùng nhân hậu. Từ Ban lãnh đạo nông trường Bộ đến ban chỉ huy các đội sản xuất, đến cả mỗi công nhân…họ đều sót sắng, nhiệt tình giúp đỡ, cưu mang, đùm bọc thầy và trò trường ta. Từng gia đình trực tiếp đến nhận học sinh về nhà mình ở. Lương thực, thực phẩm của thầy và trò được nhà trường phát cho học sinh theo đơn vị lớp, ăn ở như vậy là thuận lợi, tốt đẹp. Còn chuyện dựng lớp học thì sao?
    Từ nhà hành quân lên có 12 lớp, lên đây nông trường chiêu sinh thêm một lớp nữa - lớp 8E. Bỏi vậy phải dùng 13 lán học và 1 nhà tập đoàn. Lán phải có những lùm cây cao che chắn để bảo vệ bảo đảm an toàn dưới con mắt cú vọ của máy bay trinh sát Mỹ.Việc làm lán cũng gặp nhiều gian nan, trước lúc ra đi mỗi xã cử một tốp thợ đi cùng, nhà trường động viên thầy trò mang theo mỗi người một dụng cụ (cưa, dao, đục) lên đến nơi, đang chân ướt chân ráo, nghe tin quê nhà bị đánh bom, các tốp thợ lần lượt bỏ về hết, chỉ còn lại thầy trò nhìn nhau hẩng hụt lo lắng. Chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt đã nẩy sinh anh tài, con người nhiệt tâm, xông xáo, tận tụy đã phát lộ vào cuộc. Người đầu tiên phải kể đến là thầy Đồng Xuân Sanh. Thầy vẽ mẫu lán, xoay trần ra cưa cắt, đục đẽo, làm một cái lán mẫu rồi tập trung tổ mộc ở các lớp lại hướng dẫn cách làm. Không đầy một tháng sau cả một khối công việc đồ sộ tưởng khó hoàn thành đã xong thầy trò phấn khởi, bước vào ngày khai trường đúng như kế hoạch đã định lúc ra đi.
     Thật vui mừng trong ngày khai giảng năm học 1968 – 1969, cụ Lê Văn Mưu – Phó chủ tịch UBND tỉnh về thăm, hết sức ngạc nhiên trước những kỳ tích của thầy và trò nhà trường năm ấy. Cụ khen ngợi trường đã có những cố gắng lớn, vượt qua những khó khăn bước đầu để có được kết quả đó. Chưa kịp xả hơi, một loạt khó khăn phức tạp lại xuất hiện:
      - Dầu thắp vô cùng khan khiếm, đến cái đèn cũng không mua ra.
      - Khí hậu vùng cao, nhất là nơi rừng cao su thật là khắc nghiệt, học sinh chưa quen dễ ốm đau hàng loạt…
      - Một căn bệnh lạ phát sinh và phát triển rất nhanh trong học sinh nữ - đó là bệnh cười.
      - Lần đầu tiên xa nhà, 100% học sinh mang tâm trạng nhớ nhà, nhất là khi tết đến. Nhiều em học sinh khóc nức nở suốt ngày, nằng nặng đòi về. Tình hình đó khiến cho các thầy cô trẻ chưa có kinh nghiệm không khỏi hoang mang.
     - Một vấn đề khác cũng làm cho lãnh đạo và giáo viên không thể an tâm, đó là chuyện quan hệ nam nữ, chuyện chưa có gì nhưng không thể không chú ý vì sự đời vẫn có nhiều điều nằm ngoài ý muốn. 
    Nhưng khó khăn thì khắc phục. Tất cả đều dần dần được giải quyết trên cơ sở của tình thần đoàn kết, tình thương yêu, ý thức trách nhiệm và tinh thần vươn lên vượt khó. Các thầy cô giáo sau những giờ lên lớp, soạn bài, thường xuyên gần gũi các em, động viện các em để các em đỡ nhớ nhà. Em nào đau ốm thì thầy cô và lớp cùng chăm sóc. Thiếu dầu đèn thì nhóm củi lên vừa sưởi ấm vừa học bài…Quan hệ giữa thầy với thầy, giữa trò với thầy  ngày một chan hoà ấm áp như anh em, cha con trong một gia đình lớn. Nét nổi bật hơn cả là tinh thần tự giác rất cao của mỗi thành viên, Lãnh đạo tự  giác, cán bộ tự giác, học sinh cũng rất tự giác. Tất cả đều tự giác. Tự giác trong giảng dạy, trong học tập, lao động và sinh hoạt hàng ngày. Điều đáng biểu dương nhất là tính tự giác của học sinh ngày ấy. Giữa học sinh với công nhân có mối quan hệ gần gũi, lành mạnh, ấm áp tình người. 
    Trường vào học được một tháng, mọi sinh hoạt đã đi vào ổn định thì cô Hiệu trưởng Nguyễn Thị Hoài Thanh được Ty điều về công tác tại trường Quỳnh Lưu 2. Khó khăn đã biến thành hành động quyết tâm, trường vẫn giữ vững được khí thế ngày nào, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục.
      Năm học 1968 – 1969 đã khai giảng trên mảnh đất Tây Hiếu như thế. Dù chỉ là một học kỳ thôi, nhưng lại là một khúc ca hùng tráng, lắng sâu và trở thành kỷ niệm khắc chạm vào tâm khảm trong suốt đời nhà giáo, trong đời học sinh cấp III Hưng Nguyên mỗi người thời ấy, đó cũng là nốt son đỏ thắm trong những trang sử vẻ vang nhất của lịch sử 50 năm đã đi qua.
      Đế quốc Mỹ buộc phải ngừng ném bom hạn chế miền Bắc. Đầu năm 1969 trường từ giã Cao Trai, từ giã nông trường Tây Hiếu thân yêu trở về đất mẹ Hưng Nguyên.
     Cuộc hành quân trở về nhẹ nhàng hơn rất nhiều so với buổi ra đi. Thầy và trò ung dung đi trên trục đường giao thông chính mà không hề nơm nớp lo sợ đạn bom của kẻ thù. Song cũng như các lần trước, vừa trải qua những thử thách tưởng chừng như đã vắt cạn sức lực thầy và trò. Thầy và trò ra đi với hai bàn tay trắng, trở về với hai bàn tay không. Vừa chân ướt chân ráo trở về, lại phải bắt tay ngay vào công việc để kịp khai giảng năm học: 1960 – 1970. Và lại lần nữa, thầy Đồng Xuân Sanh được giao nhiệm vụ chỉ huy việc xây dựng lán trại, mua sắm bàn ghế, bảng đen…cho 12 lớp học.
Lần thứ 3 công sức và của cải của học sinh và phụ huynh được huy động. Qua nửa tháng trời cật lực, 12 phòng học, 2 ngôi nhà làm việc cho Giám hiệu, văn phòng, thư viện… được dựng lên rải rác dọc theo con đường vào xóm 7 Hưng Tân, sát bên con đường lịch sử 12/9. Năm học 1969 - 1970; 1970 - 1971 và năm học 1971 - 1972 đã được khai giảng và bế giảng tại nơi này. Đầu năm 1972 – 1973, một tin vui đến với trường: thầy Trần Văn Diệu có quyết định về nhận nhiệm vụ Hiệu trưởng nhà trường.
    III. Giai đoạn xây dựng và tạo đà cho sự phát triển toàn diện (1972 – 1975)
    Tháng 2/1972 sự nghiệp cách mạng của nước ta bước sang một giai đoạn mới. Nắm bắt nhạy bén, kịp thời yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng mới đối với sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn này (nửa đất nước đang còn chiến tranh), Bộ tham mưu của trường là Ban giám hiệu (gồm thầy Hiệu trưởng Trần Văn Diệu, Phó Hiệu trưởng thầy Nguyễn Xuân Lương và thầy Đặng Khắc Bút) và ban chỉ huy (do thầy Phạm Nguyên Lương, sau đó thầy Hồ Xuân Lâm làm Bí thư) đã vắt óc suy nghĩ, tìm giải pháp mới nhằm đưa nhà trường đi lên. Sự nghiệp cách mạng là của quần chúng. Đúng vậy, song vai trò cá nhân của những người lãnh đạo ở những thời điểm lịch sử nhất định nào đó lại có ý nghĩa rất quan trọng. Thầy Diệu, với bề dày kinh nghiệm, tầm nhìn sâu rộng, thầy Lâm xông xáo, quyết đoán; thầy Bút, thầy Lượng điềm tĩnh, chín chắn. Mỗi người một nét phong cách riêng bổ sung cho nhau tạo thành một bộ máy lãnh đạo vững vàng, quyết tâm đưa phong trào nhà trường bước vào thời kỳ phát triển về chất, tạo đà cho thời kỳ tiếp theo. Một chương trình hành động có tính chất toàn diện và tầm trí tuệ cao được vạch ra gồm 5 mũi giáp công:
     1. Nâng cao một bước chất lượng giáo dục – giảng dạy, học tập - rèn luyện trong nhà trường.
     2. Để dạy tốt – học tốt, phải đặc biệt chú ý đến việc xây dựng chất lượng đội ngũ thầy giáo, cô giáo và tập thể học sinh.
     3. Xây dựng cơ bản, phục vụ giáo dục – giảng dạy và học tập rèn kuyện.
     4. Xây dựng nền nếp và cải tiến công tác quản lý để đáp ứng yêu cầu các mặt.
    5. Xây dựng Chi bộ đảng thành bộ não sáng suốt, thành trái tim nhân hậu, thành ngọn cờ chiến đấu trong nhà trường, thành một tập thể gương mẫu, đoàn kết, kỷ luật, trong sạch vững mạnh.
     Chương trình hành động này được bàn khá kỹ trong Chi bộ, sau khi trở thành Nghị quyết của Chi bộ đảng, Ban Giám hiệu báo cáo trước toàn thể hội đồng giáo dục. Được tập thể tham gia bàn bạc, đóng góp ý kiến và cuối cùng đã trở thành Nghị quyết của CBGVCNV. Chương trình này được triển khai thực hiện trong nhiều năm.
    Để đưa các hoạt động đi đúng quỹ đạo đã dự định, tập thể lãnh đạo nhà trường đã xác định cần phải tìm một vị trí mới rộng rãi, cao ráo, thuận lợi để xây dựng và ổn định trường lâu dài. Thầy Diệu và thầy Lâm thay nhau ra làm việc với Huyện uỷ, UBND huyện xin đất mới. Theo đề xuất của Ban giám hiệu, Huyện đồng ý cho trường xây dựng trên khu đất phía Bắc Cầu Mưng (Hưng Thái) nhưng lại không được chính quyền xã lúc bấy giờ đồng ý, những con người tâm huyết này lại tiếp tục đạp xe nhiều lần trên đường 12/9 tìm kiếm. Và cuối cùng cũng tìm ra. Tại những thửa nương trồng lạc xứ Đồng Tu thuộc xã Hưng Thông, một cuộc họp liên tịch giữa UBND Huyện, Ban Giám hiệu nhà trường và UBND xã Hưng Thông được triệu tập. Nguyện vọng của trường được giải quyết, 3 ha đất được đóng cọc, bàn giao ngay sau đó. Trong sự thành công này có sự đóng góp quan trọng của ông Trần Xuân và ông Trần Kiều – Chánh và Phó chủ tịch huyện lúc ấy.
      Đầu năm 1973, lần thứ 5 trường di chuyển địa điểm từ Hưng Tân sang đất mới Hưng Thông và cắm chốt tại đây cho đến hôm nay.  
      Ban đầu là tranh tre, nứa mét. Song muốn có chất lượng giáo dục cao cần phải có sơ sở hạ tầng tốt. Trong hoàn cảnh đất nước còn có muôn vàn khó khăn, không thể ngồi trông chờ nguồn ngân sách từ trên rót xuống. Nhận thức được điều đó, Ban lãnh đạo nhà trường đã phát động một phong trào mang tính tổng lực nhằm khơi dậy nội lực tiềm năng trong cán bộ giáo viên, trong học sinh và nhân dân các địa phương. Trong năm học 1972 – 1973 rồi liên tiếp 2 năm sau (1973 - 1974 và 1974 - 1975) dấy lên không khí thi đua hết sức sôi nổi. Vừa giảng dạy vừa học tập, vừa lao động xây dựng cơ sở vật chất. Nhà trường xin lệnh mua than, củi. Học trò đóng gạch, đốt lò, đốt vôi. Bước chân vào cổng trường là gặp ngay quang cảnh nhộn nhịp “nửa công trường, nửa học đường” đang kiến thiết  xây dựng trường. Ngày cũng như đêm râm ran tiếng cười. Chỉ tiêu Ban Giám hiệu giao cho mỗi lớp là một tháng phải cho ra một lò gạch, tháng nào cũng có gạch ra lò, trừ khi mưa gió kéo dài. Có lúc cao điểm 30 lò gạch cùng đồng loạt nổi lửa. Thầy hiệu  trưởng xúc động, xướng một vế đối mời mọi người đối lại “Lửa hồng nung gạch hồng” để động viên phong trào. Có gạch và vôi từ sức lao động của thầy và trò, nhưng gỗ, ngói xi măng thì không thể có. Thầy hiệu trưởng lại phải ra tay. Nhờ quá trình công tác ở UBND tỉnh, thầy có nhiều quan hệ, nhờ các mối quan hệ này, thầy đã xin được 500.000 nghìn đồng kinh phí xây dựng trường (lúc bấy giờ tỉnh chỉ có 2 đơn vị là Trường Cấp III Nghi Lộc và trường ta) và một tờ lệnh mua gỗ.
Nói đến chuyện mua gỗ cũng lắm gian truân, cầm lệnh sang mua Ty Lâm nghiệp, Ty Lâm nghiệp giới thiệu lên Vật liệu Thanh Chương. Đến Thanh Chương, họ cho biết chỉ còn một số gỗ nhưng đang còn chìm dưới lòng sông (do máy bay ném bom tan bè, gỗ bị chìm). Biết làm sao? Thế là phải thuê thợ lặn vớt lên, kéo tập trung một chỗ đóng thành bè xuôi về bến chợ Vực (Hưng Xá), vừa tốn tiền, vừa vất vả nhưng được toàn gỗ có chất lượng tốt nên ai nấy đều vui. Thế mới biết cái tâm, cái sức của những người lo lắng cho trường không kể xiết. Tận tuỵ với công việc này phải kể đến thầy Đặng Khắc Bút - Hiệu phó, thầy Hồ Xuân Lâm, thầy Thái Minh Hảo, thầy Lê Khắc Trung, cùng với sự hỗ trợ của ông Phan Trọng Thế (Hội trưởng Hội phụ huynh). Có gạch, có vôi, có ngói và có gỗ huyện đứng ra hỗ trợ nhân công xây dựng bằng cách giao cho các xã huy động. Thù lao cho họ là công điểm hợp tác xã.
Toàn bộ quá trình thi công đều do nhà trường quản lý và chịu trách nhiệm chất lượng công trình. Nhờ có quyết tâm cao, tinh thần năng động của bộ phận đầu não cùng với sự ủng hộ nhiệt tình có hiệu quả của Đảng bộ, nhân dân huyện nhà, của Lãnh đạo Ty… đến năm 1975, trường đã có một cơ ngơi kiên cố, khang trang vào loại nhất nhì tỉnh. Ngoài ra còn tiết kiệm được một phần kinh phí khá lớn đủ để xây thêm 7 phòng học ở phân hiệu II (Hưng Châu).
Cùng với việc xây dựng trường, chất lượng dạy và học cũng được quan tâm đẩy mạnh. Ban Giám hiệu ngoài sự đầu tư trí tuệ cho việc tìm tòi giải pháp còn biết phát huy trí tuệ tập thể thông qua các tổ chức đoàn thể nhà trường. Ban chi uỷ giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đảng viên. Ban giám hiệu phối hợp chặt chẽ với Công đoàn và Đoàn thanh niên, phát động đăng ký thi đua dạy tốt – học tốt trong giáo viên và tập thể học sinh.
Dựa vào lực lượng cốt cán chuyên môn là các tổ trưởng và các giáo viên giỏi, động viên, khuyến khích đúc rút kinh nghiệm, bồi dưỡng dìu dắt đội ngũ giáo viên, bồi dưỡng học sinh…
Về phía học sinh, 3 năm học (1973 - 1974 - 1975) cực kỳ vất vả. Họ đã nổ lực hết mình để vừa học tốt, vừa lao động tốt. Qua học tập và qua lao động, họ được rèn luyện và thử thách. Từ hoàn cảnh đó với những nỗ lực to lớn của phụ huynh và nhân dân huyện nhà, nên từ năm học 1972 – 1973 nhà trường đã có những bước đi lên rõ nét. Năm học 1973 – 1974 trường đạt loại khá, sang năm học 1974 – 1975 được công nhận trường tiên tiến của Tỉnh. Đặc việt vinh dự là năm học này, trường được UBND tỉnh Nghệ An ra quyết định cho phép trường mang tên lãnh tụ Lê Hồng Phong.
Hai vinh dự đến cùng một lúc, đó là một nguồn cổ vũ vô cùng quý báu, với tinh thần phấn khởi và niềm tin tưởng vào sức mạnh thầy trò mạnh dạn tiến lên, quyết tâm bảo vệ và phát huy hơn nữa danh hiệu vẻ vang của Trường. Đó chính là động lực thúc đẩy tạo đà cho trường vươn lên mạnh mẽ. Hai đồng chí tổ trưởng chuyên môn là Hoàng Đăng Sâm và Nguyễn Huy Uyên được công nhận là giáo viên giỏi cấp tỉnh.
B. GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN TRONG ĐIỀU KIỆN ĐẤT NƯỚC HOÀ BÌNH (1976 – 1990)
    Đất nước thống nhất, trong hào khí chung của đất nước, Trường Cấp III Lê Hồng Phong trên cơ sở những thành tích đã đạt được những năm qua, xốc lại hành trang sẵn sàng bước vào giai đoạn mới với một quyết tâm cao nhất. Quyết tâm xây dựng nhà trường vững mạnh toàn diện. 
     Để đảm bảo cho những bước đi vững chắc và đúng hướng, vai trò người cầm lái bao giờ cũng rất quan trọng. Thầy hiệu trưởng Trần Văn Diệu, thầy Hiệu phó kiêm Bí thư Chi bộ Hồ Xuân Lâm, thầy Phùng Ngọc Mỹ, sau này được bổ nhiệm thêm thầy Phạm Quý Hùng, cùng ban Chi uỷ, Chi bộ quyết định kiện toàn lại các tổ chức trong nhà trường để lãnh đạo tốt phong trào, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của nhà trường trong thời kỳ mới. Đầu năm học này nhiều đại hội quan trọng đã mở ra, xây dựng cho một phương hướng hoạt động cho từng tổ chức, cụ thể là:
     a. Về nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.
     Một mặt, nghiêm túc thực hiện các nền nếp dạy học và học do Bộ và Sở đề ra. việc cải tiến giảng dạy theo cách “Nêu vấn đề”, việc học theo “Năm khâu liên hoàn”, phong trào này phải được nhân rộng ra trong toàn trường, trong tất cả các bộ môn.
- Tiến hành thí điểm giảng dạy 2 môn Vật lý và Hoá học ở phòng bộ môn nhằm tập cho học sinh thói quen tự tìm ra vấn đề kiến thức, khoa học, xây dựng thành bài học dưới sự dẫn dắt của thầy giáo. Để có điều kiện chăm sóc học sinh  phù hợp với hoàn cảnh năng lực, trường đã chia học sinh thành 3 lớp: Loại học sinh khá giỏi 2 môn Văn và Toán phân công các thầy giáo giàu kinh nghiệm phụ trách, loại lớp cho những học sinh là con em liệt sỹ và các diện chính sách khác do những giáo viên là thương binh, bộ đội và những giáo viên tận tuỵ với học sinh đảm nhiệm; và loại lớp giành cho học sinh có chất lượng văn hoá trung bình còn lại, số này được phân công chia theo địa dư để tạo điều kiện cho giáo viên dễ đi kiểm tra.
     b. Chất lượng đội ngũ:
     Đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ thầy cô giáo và tập thể học sinh thành các đơn vị tiên tiến. Biện pháp cụ thể: Xây dựng Hội đồng giáo viên thành một tập thể đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, đạo đức liêm khiết, luôn luôn học hỏi vươn lên. Các tổ chuyên môn và các tổ chức công đoàn phối hợp chặt chẽ với nhau cùng vận động mọi người tham gia ký kết giao ước thi đua, đôn đốc kiểm tra các hoạt động chuyên môn như: Soạn bài, giảng bài, chấm bài và cách đánh giá thi đua.
Đối với học sinh, phối hợp với Ban giám hiệu, Ban chấp hành đoàn trường (do đ/c Trần Viết Niệm làm Bí thư, thay đ/c Hoàng Ngọc Quang đi nhận công tác đơn vị khác) đã đề ra được nhiều biện pháp xây dựng các tập thể học sinh XHCN.
      c. Về xây dựng cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học.
     - Tiếp tục phát huy nội lực của nhà trường, huy động công sức thầy trò và sự giúp đỡ của nhân dân tranh thủ sự hỗ trợ của lãnh đạo các cấp các ngành hoàn thiện cơ sở vật chất trường lớp một cách sớm nhất để tập trung vào mũi nhọn chuyên môn.
      d. Công tác quản lý nhà trường được đặc biệt chú trọng, vai trò nhiệm vụ các tổ chức trong trường nhà trường được xác định một cách rõ ràng.
     Chi bộ đảng lãnh đạo, Ban Giám hiệu quản lý, chỉ đạo, thầy trò làm chủ, lực lượng phụ huynh hỗ trợ. Phương hướng trên được quán triệt sâu rộng trong toàn bộ các tổ chức nhà trường. Được sự đồng tâm hưởng ứng của cán bộ giáo viên, học sinh và của cả nhân dân. Nhờ thế mà đã phát huy được sức mạnh tổng hợp trong và ngoài nhà trường.
       Nhờ vậy, từ đây và liên tiếp nhiều năm sau mọi hoạt động trong trường đều đi vào nền nếp, quy cũ, mọi mặt chất lượng dàn hàng ngang cùng tiến. Ba nét nổi bật nhất thời kỳ này là:
- Chăm lo đến công tác tổ chức trong nhà trường.
- Không ngừng tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy để nâng cao chất lượng văn hoá cho học sinh. Nhà trường đã học tập và áp dụng kinh nghiệm quản lý theo định mức của trường cấp III Kỳ Anh…
       Kết quả:  Các tổ nhóm chuyên môn sinh hoạt một cách có hiệu quả, chất lượng cao hơn rõ rệt. Đội ngũ giáo viên giỏi ngày càng đông: thầy Điều, thầy Uyên, thầy Sâm, có thêm thầy Mão, thầy Niệm,… Đội ngũ học sinh giỏi ngày càng tăng…Đây là giai đoạn trường đạt tới đỉnh cao về mọi mặt, nhất là chất lượng đội ngũ - một đội ngũ giáo viên vào loại mạnh nhất tỉnh lúc bấy giờ. Tổ Văn có các thầy: Võ Văn Đắc, Nguyễn Đức Tám, Đặng Khắc Bút, Nguyễn Anh Kỳ, Nguyễn Văn Diện, Cao Văn Bảy, Trần Xuân Cường, Phan Hữu Bẩm…Tổ Sử có các thầy: Phạm Xuân Khôi, Dương Văn Doãn, tổ Địa Lý có các thầy: Đàm Diệu Bình, Phí Hữu Thịnh; Môn Chính trị có các thầy Hồ Xuân Lâm, Lê Xuân Bảy, Phan Liệu, Phan Nhữ Dực, Phan Văn Ngô, Ngũ Trọng Lễ… Tổ Toán có các thầy: Nguyễn Nhân, Lê Văn Điều, Nguyễn Huy Uyên, Trần Viết Niệm, Phạm Nguyên Lượng, Trần Châu, Trần Xuân Huy, Phạm Xuân Lâm, Nguyễn Văn Mão, Dương Đức Điển…Môn Vật Lý có: Thầy Thái Anh, Hoàng Đăng Sâm, Nguyễn Ngọc Quyến, Nguyễn Hữu Minh, Tạ Thị Mỹ Liễu…Môn Hoá có: Nguyễn Văn Kiên, Nguyễn Đình Liễu, Hồ Thị Dung…Môn Sinh vật có:Thầy Thái Doãn Thuyên, Phạm Mai Hương, Trần Quang Minh …Môn Thể dục có: Thầy Nguyễn Đức Đệ, Lê Khắc Trung, Hồ Văn Hiềng, Nguyễn Thị Thanh…Từ chất lượng đội ngũ, chất lượng chuyên môn, từ kiên trì nề nếp kỷ cương thực hiện định mức mà có cả một loạt học sinh đỗ đạt như: Thái Trí Dũng (1975 – 1978) Tiến sỹ giảng  dạy 3 trường ĐHBK – TP Hồ Chí Minh; Vũ Danh Nhân (1974 – 1977) là cán bộ BTC Chính phủ; Thái Thị Xuân (1976 – 1979) Thạc sỹ y khoa bệnh viện Y học dân tộc Nghệ An hoặc như Nguyễn Quý Hiếu (Hưng Long); Hoàng Văn Sao (Hưng Thông); Phan Đình Phẩm (Hưng Thông)…trở thành những tấm gương làm giàu từ chăn nuôi cá, lợn hoặc trang trại cây công nghiệp. Hay bản lĩnh trí tuệ chuyên môn như Dư Đình Viên (1979), Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Huy Thắng, Lưu Đức Lĩnh… những năm 1979 – 1983
- Xây dựng cơ sở vật chất cũng được đẩy thêm một bước vẫn bằng phương châm mà những năm 1973 – 1974 – 1975 đã thực hiện liên tục nhiều năm học sau thời kỳ này  thầy và trò cấp III Lê Hồng Phong đã làm thêm được nhiều chuyện đáng kể.Trong những năm 1975 – 1976, 1977 – 1978 nhà trường tập trung chủ yếu cho việc hoàn thành cơ sở tại địa bàn Hưng Thông. 3 dãy phòng học, 1 dãy giành cho học khối, 1 dãy nhà thư viện thiết bị, thí nghiệm, 1 dãy nhà truyền thống, nhà làm việc của Ban Giám hiệu, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội trường, các công trình vệ sinh lần lượt mọc lên. Trước yêu cầu nhiệm vụ phát triển quy mô trường lớp mở rộng, lại được sự đồng ý của lãnh đạo cấp trên trường ta mở thêm phân hiệu Hưng Châu. Vậy là vừa phải lo hoàn tất cơ sở 1 lại phải lo xây dựng cơ sở II. Đến năm học 1980 – 1981 khi có quyết định thành lập trường cấp III Phạm Hồng Thái thì cơ ngơi Trường căn bản được hoàn thành.
      Có thể nói thời kỳ từ năm học 1975 – 1976, 1989 – 1990 là thời kỳ nhà trường làm nên được nhiều kỳ tích đưa trường ta lên ngang hàng với các trường đàn anh trong toàn tỉnh. Vì thế, mà năm 1978 trường được vinh dự lớn khi Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Thị Bình (sau đó làm Phó chủ tịch nước) về thăm trường. Bà đánh giá rất cao về sự phấn đấu nỗ lực của thầy và trò trường ta.
     C. ĐI LÊN TRONG THỜI KỲ ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI
     Bước sang thập kỷ 90 sự nghiệp cách mạng của đất nước đi vài thời kỳ đổi mới sâu sắc toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có giáo dục đào tạo. Đứng trước “Yêu cầu mới” sự nghiệp giáo dục trường ta những năm đầu có lúc tưởng chừng như không thể đứng vững được trước những biến động của nhà trường do lượng học sinh giảm bị tác động mạnh mẽ: 
- Về mặt tổ chức: Các tổ chức trong nhà trường suy nghĩ thiếu thống nhất hoạt động thiếu sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ.
- Về tâm lý của thầy và trò: học sinh tuyển sinh vào lớp đầu cấp có năm hầu như không có, trong lúc đó những học sinh đang học 11 – 12 đua nhau bỏ học (có nhiều em đến cuối năm, thậm chí đến ngày thi tốt nghiệp vẫn còn bỏ). Số giáo viên có năm tháng, có bề dày kinh nghiệm thì xin nghỉ hưu hoặc xin chuyển sang trường khác do yêu cầu của tổ chức. Đặc thù chung của giai đoạn giáo dục lúc bấy giờ, các thầy lãnh đạo như thầy Trân, thầy Lâm và những con chim đầu đàn như thầy Sâm, thầy Uyên đã cao tuổi lần lượt rời trường về vui thú cảnh điền viên.
- Về cơ sở vật chất: Trường lớp đã qua 20 năm sử dụng chịu nhiều trận bão lụt nên đã xuống cấp trầm trọng.
- Tuy tình hình là thế nhưng một số bộ phận giáo viên, công nhân viên tâm huyết vẫn kiên cường bám trụ, họ chăm lo tận tuỵ với nghề, hăng hái trong  mọi công việc hết lòng yêu thương đối với học sinh, bám trường, bám lớp quyết tâm giữ gìn truyền thống tốt đẹp vẻ vang của trường. Một bộ máy lãnh đạo trường còn rất trẻ, thầy Trần Quốc Cường (Hiệu trưởng), thầy Hồ Sỹ Đồng (Hiệu phó) được đề bạt năm 1994, sau đó thầy Cường chuyển về trường Vinh, thầy Đồng làm Hiệu trưởng cùng với thầy Nguyễn Hữu Chung được đề bạt làm Phó hiệu trưởng nhà trường (1995).
Vấn đề đặt ra lúc này là làm thế nào để vươn lên vượt ra khỏi hoàn cảnh khó khăn đó?
Bảo vệ được niềm vinh dự và sự tồn tại độc lập của trường chẳng có ý nghĩa gì nếu như không tìm ra được cách thức khôi phục và phát triển nó. Nhận thức rõ điều ấy,tập thể cán bộ giáo viên từ lãnh đạo đến nhân viên, từ đảng viên đến quần chúng đều trăn trở tìm tòi, đổi mới phương thức quản lý, lề lối làm việc, đổi mới các mặt hoạt động giáo dục, giảng dạy học tập và rèn luyện sao cho phù hợp với yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục trong tình hình và nhiệm vụ mới, không ngừng cũng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ, thu hút ngày càng đông con em của nhân dân trong huyện đến trường. Với mục đích đó nhà trường chú ý tập trung vào một số khâu cụ thể sau đây:
- Trước tiên: Phải kiện toàn lại các tổ chức trong nhà trường từ Chi bộ đến Công đoàn, Đoàn thanh niên, tổ chuyên môn đến các nhóm nhằm tạo  ra được một guồng máy phối hợp thống nhất giữa lời nói và việc làm.
- Thứ hai: Chú trọng xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong toàn bộ Hội đồng. Đề cao dân chủ, xây dựng nền nếp kỷ cương trong giáo viên và học sinh, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, đoàn thể trên các mặt hoạt động.
- Thứ ba: Đẩy mạnh nâng cao chất lượng dạy và học, thật sự coi đây là khâu then chốt có ý nghĩa sinh tử của trường trong các giai đoạn này.
- Thứ tư: Tích cực tôn tạo, di tu bảo quản cơ sở vật chất nhà trường. Trong điều kiện vốn nhà nước không cấp, bằng sự đóng góp của nhân dân và sự tiết kiệm tối đa về chi tiêu, hàng năm nhà trường đã chi ra hai ba chục triệu đồng sửa sang, bổ sung các công trình lớn. Làm thêm một số công trình nhỏ thiết yếu bổ sung trang bị cho thư viện và phòng thí nghiệm….
Tất cả những nội dung hoạt động trên đây đã làm cho bộ mặt nhà trường dần dần khởi sắc, bước đầu hoà nhập được vào làn gió đổi mới của sự nghiệp giáo dục của cả tỉnh và của cả nước.
       Năm 2002 thầy Hiệu trưởng Hồ Sỹ Đồng chuyển công tác, nhận nhiệm vụ mới Trưởng phòng Giáo dục huyện. Thầy Nguyễn Hữu Chung lên làm Hiệu trưởng. Theo đánh giá khách quan, có ý kiến cho rằng trong thời gian 9 năm trường có vẻ trầm lắng. Nhưng với vẻ điềm đạm, chân chất, mộc mạc và bình dị, bằng cái tâm và cái đức của thầy Hiệu trưởng Nguyễn Hữu Chung đã có phong cách quản lý nhà trường riêng. Không phô trương tô vẽ, không ồn ào nhưng thầy Hiệu trưởng và Ban Giám Hiệu mới là thầy Hoàng Nghĩa Tự và thầy Hồ Sỹ Đông làm Hiệu phó đã có những sáng tạo riêng trong những bước đi của nhà trường.
       Để hội nhập với sự nghiệp đổi mới Giáo dục, thay sách giáo khoa, đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy từ năm 2005. Lãnh đạo nhà trường bàn các biện pháp xây dựng, phát triển đội ngũ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Có thể nói đây là thời kỳ nhà trường mạnh dạn tạo điều kiện cho giáo viên đi học Thạc sỹ để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn như: thầy Phàn, thầy Nam, cô Trà, cô Hương (Lý), cô Kim Hoa, cô Bình, thầy Đảng, thầy Tùng, thầy Đông, cô Hà (Văn), cô Lợi…Động viên khích lệ giáo viên tham gia các kỳ thi giáo viên giỏi tỉnh đạt kết quả cao: thầy Phàn, thầy Thục, cô Hà (Văn), cô Kim Hoa, cô Nghĩa,  cô Hương (GD), thầy Thắng, thầy Thành, cô Hiền, cô Bình, cô Trà, thầy Phong. Trong số các thầy cô giáo ấy, sau này có nhiều giáo viên đã phát huy được năng lực, tố chất được bổ nhiệm làm cán bộ quản lý nhà trường, cán bộ Sở Giáo dục như thầy Phan Xuân Phàn, cô Hồ Thị Hà. Các thầy cô giáo có năng lực chuyên môn tốt chuyển trường cũng phát huy được thế mạnh như: thầy Nam, cô Hương (Lý), cô Kim Hoa, cô Trà, cô Bình.
          Cùng với các thầy cô, các trò cũng thi đua học tốt, thi học sinh giỏi tỉnh, thi đại học cũng xếp loại khá, đứng vào tốp trên. Các kỳ thi tỉnh trước chỉ đạt giải khuyến khích, thì giai đoạn này học sinh giỏi tỉnh nhà trường đã có các giải nhì, giải ba môn Văn và Toán. Để có được đội ngũ nhà trường có chất lượng cao, Ban lãnh đạo đã chú trọng, quan tâm đến việc xây dựng khối đoàn kết gắn bó trong anh chị em cán bộ giáo viên. Bằng tình thương và trách nhiệm, đội ngũ nhà trường đã tự giác học hỏi, giúp đỡ nhau trong hoạt động chuyên môn cũng như trong cuộc sống sinh hoạt. Các thầy cô đã chung sức, đồng lòng cùng nhau phấn đấu thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nhà trường liên tục đạt trường tiên tiến.
           Bên cạnh đó, nhà trường cũng dần thực hiện và hoàn thiện kiên cố hóa các nhà học cao tầng. Nhà hiệu bộ làm việc của giáo viên. Trong dịp kỷ niệm 45 năm thành lập trường, bằng nguồn xã hội hóa và đóng góp của cựu học sinh cũ đã đóng góp xây dựng trường với các hiện vật có giá trị: Cổng trường, bảng tin, bàn ghế phòng làm việc của Hội đồng giáo dục, phòng họp Hiệu trưởng, phòng máy tính và các trang thiết bị khác cùng tiền mặt có giá trị gần một tỷ đồng. Với sự tận tâm của các thầy trong Ban Giám hiệu, nhà trường đã được UBND Tỉnh phê duyệt dự án Lê Hồng Phong nằm trong tổng thể dự án khu di tích Tổng Bí thư Lê Hồng Phong.
          Năm 2011, thầy Hiệu trưởng Nguyễn Hữu Chung và thầy Hiệu phó Hoàng Nghĩa Tự đến tuổi nghỉ hưu, Ban Giám hiệu trường lại được kiện toàn. Thầy Nguyễn Viết Hùng được cấp trên điều về làm Hiệu trưởng, cô Hồ Thị Hà mới được bổ nhiệm làm Hiệu phó, thầy Hồ Sỹ Đông được phân công làm Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn. Lịch sử nhà trường được viết thêm những trang mới. 
Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục của đất nước theo xu hướng hội nhập quốc tế, phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Bên cạnh thế mạnh của Giáo dục được Đảng và Nhà nước quan tâm: Giáo dục là quốc sách hàng đầu, thì những mặt trái của cuộc sống xã hội hiện đại vẫn từng ngày, từng giờ len lỏi vào thế giới học đường. Các tệ nạn xã hội manh nha phát triển trong thế giới học đường, kỹ năng sống của học sinh còn nhiều hạn chế…
Mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử đều có những thử thách khó khăn riêng. Vượt qua mưa bom, bão đạn, trụ vững với luồng gió đổi mới giáo dục, nhà trường đã khẳng định được vị trí và thương hiệu của mình để rồi trường đã vươn mình lên một tầm cao mới. Với sự năng động, tháo vát và có tính quyết đoán đầy bản lĩnh, với tài năng ngoại giao tốt và bằng cái tâm, sự nhiệt huyết của mình, thầy Hiệu trưởng Nguyễn Viết Hùng nguyên là cựu học sinh của trường đã dày công tìm hiểu về nhà trường, bám trường, bám lớp. Ban Giám hiệu trường phối hợp tốt với các tổ chức trong nhà trường thành lập tổ an ninh, đội cờ đỏ… và đã có những quyết định, kế hoạch xây dựng trường để phát huy, phát triển nhà trường vững mạnh hơn. Đổi mới tư duy tác phong làm việc của đội ngũ cán bộ quản lý. Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giáo dục mới. Giáo dục chất lượng học sinh toàn diện, đặc biệt chú trọng xã hội hóa giáo dục đạo đức học sinh, Giáo dục truyền thống, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục Luật giao thông đường bộ, Luật hôn nhân và gia đình, Luật cấm hút thuốc lá, Sức khỏe sinh sản vị thành niên, phòng chống Ma túy và các tệ nạn xã hội khác…Nhà trường đã phối hợp liên ngành tổ chức giao ban an ninh, tổ chức chuyên đề giáo dục pháp luật với các cơ quan có liên quan cùng vào cuộc để tuyên truyền, vận động giáo dục. Thực hiện phương pháp giáo dục mở kết hợp giữa Nhà trường - Gia đình - Xã hội đã thu nhận được sự đồng thuận, nhất trí cao của chính quyền địa phương và phụ huynh học sinh, tạo được niềm tin, là địa chỉ uy tín, chất lượng để nhân dân địa phương gửi gắm con em đến trường.
 Về cơ sở vật chất: nhà trường đang thực hiện, thi công dự án Lê Hồng Phong đảm bảo chất lượng, đúng kỹ thuật, đúng tiến độ với các hạng mục: Tượng đài Lê Hồng Phong, khuôn viên  sân vận động, bờ rào nhà trường, lát sân, xây dựng nhà văn hóa đa chức năng, bồn hoa cây cảnh, nhà xe… Đến nay, gần như cơ bản đã hoàn thành. Cùng với công sức xây dựng của các thế hệ học sinh và các thế hệ thầy cô giáo trải qua 50 năm, kế thừa và phát huy có tính thẫm mỹ cao, trường THPT Lê Hồng Phong hôm nay có một cảnh quan sư phạm, khang trang, bề thế, hiện đại và đẹp đứng vào tốp đầu của các nhà trường trong tỉnh.
Về chất lượng giáo dục: vượt qua khó khăn ban đầu, nhà trường đã đạt được nhiều thành tích nổi bật, đáng tự hào: Trường đạt danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc. Được tặng thưởng Bằng khen các cấp, cờ thi đua các cấp. Chi bộ liên tục nhiều năm đạt Chi bộ trong sạch vững mạnh, Công đoàn vững mạnh, Đoàn trường được Trung ương Đoàn tặng Bằng khen nhiều năm liền. Đội ngũ giáo viên có nhiều người trưởng thành là cộng tác viên cốt cán chuyên môn của Sở Giáo dục như: cô Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Thị Bích Giao, Trần Thị Mỹ Hạnh, thầy Vũ Tiền Phong, thầy Lê Minh Tùng, thầy Nguyễn Việt Anh… Số học sinh giỏi các kỳ thi tỉnh, THPT quốc gia được xếp thứ nhất, nhì, ba và được tỉnh tuyên dương học sinh đậu đại học điểm cao năm nào cũng có. Nhà trường cũng chú trọng công tác từ thiện, gây quỹ tình thương lá lành đùm lá rách. Trong năm học 2011- 2012 trường đã quyên góp ủng hộ em Lê Văn Thế  lớp11A3 bị bệnh máu trắng gần 40 triệu đồng. Năm học 2012- 2013 trường quyên góp ủng hộ cô giáo Nguyễn Thị Hồng bị bệnh hiểm nghèo số tiền gần 70 triệu đồng. Năm học 2014- 2015 trường ủng hộ em Phan Thị Phương lớp 12A5 bị mồ côi cả cha và mẹ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với số tiền 20 triệu đồng…Số em học sinh được kết nạp vào đảng ngày càng đông, tiểu biểu như em Nguyễn Thị Hà Vi, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Văn Hoàng…
           Số giáo viên tham gia viết SKKN được công nhận bậc 4 và xếp loại A,B cấp ngành năm sau cao hơn năm trước như: cô Hương (GD), cô Thanh (Kế toán), thầy Hùng (Hiệu trưởng), cô Thủy, cô Giao, cô Hạnh, cô Thu, thầy Việt Anh. Số giáo viên thi đạt giáo viên giỏi chu kỳ năm học 2011- 2015: cô Yến, cô Hạnh, thầy Tùng, thầy Việt Anh. Số giáo viên đi học Thạc sỹ nâng cao trình độ hiện nay đã tăng và có tổng 21/56 CB,GV. Nhà trường trở thành địa chỉ giao lưu các hoạt động văn hóa, văn nghệ, tuyên truyền cổ động, tham gia tích cực vào các hoạt động thi đua phong trào do Huyện và Tỉnh phối hợp tổ chức. Nhiều cán bộ giáo viên được tặng thưởng Bằng khen các cấp,  của Chủ tịch UBND tỉnh, Bộ trưởng Bộ Giáo dục, và Thủ tướng Chính phủ như: thầy Hùng Hiệu trưởng, thầy Đông, cô Hà, thầy Hoàng, cô Hương (GD), cô Yến, cô Hạnh, thầy Việt Anh, thầy Tùng, thầy Đại, thầy Thắng, thầy Tâm, thầy Hào,… Nhiều giáo viên đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp tỉnh: thầy Hùng hiệu trưởng, cô Thanh( Kế toán), cô Hương (GD), cô Nghĩa, cô Hiền, thầy Phong,… 
              Một dấu ấn trong sự phát triển đi lên của nhà trường, chính là năm học 2014- 2015 Trường ta đã đạt danh hiệu Trường đạt chuẩn quốc gia, và đang trình hội đồng thi đua các cấp tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì. Đó là sự kết tinh thành quả của tập thể nhà trường 50 năm phấn đấu, là bó hoa tươi thắm của thầy và trò Trường ta kính dâng lên Lãnh tụ Tổng Bí thư Lê Hồng Phong nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường.
Năm mươi năm phấn đấu và trưởng thành trường THPT Lê Hồng Phong đã trải những khó khăn và thuận lợi mang tính đặc thù. Bên cạnh việc gặt hái được những thành tích rất đáng tự hào làm thay đổi  bộ mặt nhà trường, còn có những tồn tại cần khắc phục. Từ những thành tựu đạt được đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu:
- Dù trong hoàn cảnh nào, xuất phát từ mục tiêu đào tạo và quan điểm về giáo dục của Đảng cần phải hiểu rõ nhiệm vụ chính trị của nhà trường là không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học, giáo dục và rèn luyện.
- Muốn hoàn thành nhiệm vụ đó cần phải xây dựng một đội ngũ giáo viên tốt về tư cách, giỏi về tay nghề. Phải phát động được học sinh tinh thần chăm học ham tìm hiểu. Phải có trang thiết bị đầy đủ hợp lý. Phải có một bộ máy quản lý vững mạnh, năng động, luôn cải tiến và đổi mới, muốn vậy cần phải chú trọng xây dựng Chi bộ đảng phải thật sự trong sạch vững mạnh, giữ vững niềm tin, uy tín trong quần chúng.
- Thắng lợi trong 50 năm qua của trường ta là kết quả phấn đấu không mệt mỏi của nhiều thế hệ thầy và trò, đó là sự kết hợp, gắn bó giữa 4 nhân tố: Đoàn kết - vượt khó- vươn lên dạy tốt và học tốt - Đoàn kết gắn bó với nhân dân địa phương và giữa 5 khâu: Chi bộ Đảng - Cán bộ quản lý - Chất lượng đào tạo - Đội ngũ - Cơ sở vật chất. Mà chìa khóa mở ra các mắt xích các quan hệ là sự đoàn kết nhất trí cao của tập thể hội đồng giáo dục. Các bài học kinh nghiệm quý báu trên, nhà trường xem đó là kim chỉ nam cho hoạt động giáo dục sư phạm của trường, góp phần không nhỏ làm nên vị trí bề thế của trường ta trong 50 năm qua.
50 năm trường cấp III Hưng Nguyên -  THPT Lê Hồng Phong thật đáng tự hào. Làm sao kể hết được sự chăm lo, ưu ái của Đảng bộ và nhân dân huyện nhà đã giành cho trường để có ngày hôm nay? Làm sao ghi chép được hết công sức của 5 thế hệ thầy và trò đã bỏ ra vì một mái trường được vinh dự mang tên Tổng Bí thư Lê Hồng Phong - niềm tin yêu của tất cả mọi người? Làm sao liệt kê hết những tên người, tên việc, những thành tích làm rạng ngời trang sử nhà trường, để từ đó động viên, cổ vũ các thế hệ đàn em noi theo?....
         Đó là những trăn trở khát vọng của chúng tôi - tập thể Hội đồng sư phạm hôm nay. Bởi sự thiết tha đó, chúng tôi đã cố gắng hồi ức lại trang sử lại nhà trường 50 năm xây dựng và phấn đấu. Do chiến tranh, lũ lụt, quá trình lưu trữ…tư liệu của trường bị mai một, thất lạc, mất mát và trong quá trình biên soạn, dẫu biết còn có nhiều hạn chế: sai, sót, với nhiều lí do khác nhau, vì thế Ban biên soạn mong muốn nhận được sự cảm thông, góp ý chân thành của các thế hệ thầy cô giáo, của các thế hệ học sinh, của bạn đọc gần xa…Những đóng góp ý kiến xin gửi về địa chỉ:c3lehongphong@nghean.edu.vn. Hoặc số điện thoại: 0383 821 282. 
NHỮNG THÀNH TÍCH VÀ DANH HIỆU ĐẠT ĐƯỢC:
Năm học Thành tích
1965-1975:
Trường tiên tiến cấp tỉnh
1975-1985
1985- 1990 Trường tiên tiến xuất sắc.
Trường tiên tiến
1990- 1999 Trường tiên tiến
1999- 2000 Trường tiên tiến xuất sắc.
11/2000 Trường được Chủ Tịch nước tặng
Huân chương lao động hạng Ba
2000- 2012 Tập thể lao động tiên tiến.
2009- 2010 Bằng khen của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo
2012- 2015
Trường đạt Chuẩn quốc gia
Tập thể lao động xuất sắc.
Bằng khen của UBND tỉnh
Cờ thi đua của UBND tỉnh
Cờ thi đua Chính Phủ
Trường đang đề nghị Hội đồng thi đua các cấp xét khen tặng Huân chương Lao động hạng Nhì.
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây